Mở đầu chuỗi nội dung mừng Tết Bính Ngọ “Tết Bền Tết Khởi”, Vietsuccess hân hạnh được đón tiếp GS.TS. Nguyễn Khắc Thuần, nhà nghiên cứu sử học và văn hóa học. Bằng tâm huyết với văn hóa và lịch sử, thầy đã có những cống hiến quan trọng qua hàng trăm đầu sách, và các công trình nghiên cứu có giá trị.
Những vốn quý của dân tộc Việt qua hàng ngàn năm
Ngược dòng lịch sử, Giáo sư Nguyễn Khắc Thuần khẳng định dân tộc Việt được hình thành trên một không gian văn minh giàu nội lực. Tiêu biểu là Trống đồng, biểu tượng của trình độ luyện kim, tư duy thẩm mỹ và tổ chức xã hội đã đạt tới độ tinh xảo từ rất sớm.

Trống đồng không chỉ là hiện vật khảo cổ, mà là tiếng nói của một nền văn minh biết chế tác, sáng tạo và gửi gắm vào đó thế giới quan của mình qua hình tượng mặt trời, chim Lạc và đời sống cộng đồng.
Song song với chiều sâu văn hóa là sự trù phú của đất đai. Trong “Chân Lạp phong thổ ký”, Châu Đạt Quan từng ghi lại sự kinh ngạc trước “lúa trời” – nước dâng đến đâu, lúa vươn cao đến đó, phản ánh khả năng thích nghi bền bỉ của nền nông nghiệp lúa nước. Thời phong kiến, phương Bắc còn đặt chức quan chuyên tuyển chọn quất đẹp làm cống phẩm; vải và nhãn Việt nổi tiếng đến mức mang giống về trồng nhưng không cho hương vị tương đương do khác biệt thổ nhưỡng. Những ghi chép ấy cho thấy sản vật Việt không chỉ phong phú, mà còn đủ giá trị để trở thành đối tượng được tìm cách tiếp nhận và tái tạo.

Từ những chứng tích đó, thầy gợi mở một định hướng phát triển mang tính nền tảng: muốn đi xa, trước hết phải hiểu mình đang đứng trên kho tàng nào. Lịch sử không chỉ để tự hào, mà để xác lập lợi thế chiến lược. Phát triển bền vững không bắt đầu từ việc sao chép mô hình bên ngoài, mà từ việc nhận diện, gìn giữ và sáng tạo trên chính những vốn quý đã được lịch sử chứng thực.
Tinh thần đoàn kết trong các phong tục ngày Tết
Nhìn lại các phong tục ngày Tết, thầy nhấn mạnh vai trò của tục tảo mộ để con cháu luôn nhớ về tổ tiên. Theo các tư liệu khảo cổ, tục thờ cúng tổ tiên đã có hàng ngàn năm trước trong các hốc đá, khi các tổ chức gia đình đã hình thành, tạo sự đoàn kết và gắn bó.
Bên cạnh đó, thầy cho rằng nhiều tập tục thực chất là một cơ chế bảo vệ và tôn trọng phụ nữ ẩn chứa một cách tinh tế và khéo léo. Bánh chưng và Bánh tét không chỉ mang ý nghĩa biểu tượng đất – trời, mà còn là giải pháp dự trữ lương thực. Khi bánh đã được chuẩn bị trước, những ngày đầu năm người phụ nữ không phải tất bật bếp núc. Tục kiêng quét nhà cũng có thể hiểu theo cách tương tự. Không chỉ là kiêng kỵ “quét lộc”, mà là một cách buộc cả gia đình phải giữ gìn ngăn nắp từ trước đó, để người phụ nữ được nghỉ ngơi hoàn toàn trong những ngày đầu năm mới.

Đặc biệt, phong tục lì xì được thầy phân tích như một bài học giáo dục tài chính tinh tế. Đồng tiền mừng tuổi không đơn thuần là cho – nhận. Đó còn là phép thử tính cách. Đứa trẻ xé phong bao rồi tiêu ngay phản ánh xu hướng vô tư, thiếu cẩn trọng; đứa mở ra đếm cẩn thận, vuốt phẳng rồi cất giữ thể hiện sự trân trọng và khả năng tích lũy. Người lớn, thông qua một phong bao đỏ, đang dạy trẻ cách ứng xử với giá trị, với tiền bạc và với sự biết ơn.

Mùng 2 Tết sang nhà vợ cũng mang ý nghĩa sâu xa. Theo Giáo sư, đó là lời nhắc người chồng nhớ rằng vợ mình trước khi thuộc về gia đình mới, từng được thừa hưởng tình yêu thương của cha mẹ. Hành động chúc Tết nhà vợ không chỉ là lễ nghi, mà là sự khẳng định cấu trúc đoàn kết nội – ngoại, tạo sự ủng hộ hai bên cho thế hệ sau.
Nhìn tổng thể, Tết không chỉ là một dịp lễ hội. Đó là một thiết chế xã hội thu nhỏ, nơi trách nhiệm được phân bổ lại, lòng biết ơn được tái khẳng định và các mối quan hệ được củng cố. Chính những cấu trúc văn hóa âm thầm ấy đã nuôi dưỡng tinh thần đoàn kết và sức bật của dân tộc Việt qua nhiều biến động lịch sử.

Muốn thấy được sức mạnh của dân tộc thì phải hiểu tất cả những giá trị mà tổ tiên ta để lại. Những giá trị đó không nằm trong các tác phẩm hàn lâm, mà được kết tinh qua phong tục, tập quán và lễ nghi. Từ đó, chúng ta tổng kết lại những bài học quý giá như những viên ngọc lấp lánh, vô giá và bất diệt mà tổ tiên trao truyền.
Vận dụng bài học quý báu của cổ nhân cho hiện tại
Nếu Tết cho thấy cách người Việt tổ chức gia đình và duy trì đoàn kết xã hội, thì những bài học cổ nhân mà Giáo sư Nguyễn Khắc Thuần nhắc đến lại mở ra một tầng sâu hơn: cách dân tộc này tiếp biến, quản trị và sáng tạo để tồn tại qua biến động.
Trước hết là triết lý tiếp biến văn hóa. Trong cuộc trò chuyện có đề cập đến tư tưởng của cụ Đào Duy Anh: lấy văn hóa cũ làm Thể, lấy văn hóa mới làm Dụng. “Thể” là cốt lõi – căn tính, hệ giá trị nền tảng. “Dụng” là cách vận hành, ứng dụng trong hoàn cảnh mới. Theo ông, vấn đề không nằm ở việc học hỏi bao nhiêu từ bên ngoài, mà ở chỗ có giữ được cốt lõi hay không. Một dân tộc mạnh không phải dân tộc khép kín, mà là dân tộc biết tiếp thu mà không đánh mất mình.

Bên cạnh tư duy văn hóa là tư duy quản trị mà cổ nhân để lại. Giáo sư nhắc đến quy định quan lại không được làm quan tại quê hương mình. Sau khi vinh quy bái tổ, phải đi nơi khác nhậm chức. Cơ chế này nhằm ngăn chặn bè phái, lợi ích nhóm và tham nhũng từ gốc rễ. Điều đáng chú ý là tư duy phòng ngừa ấy đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Đó là minh chứng cho thấy cha ông không chỉ giỏi đánh giặc, mà còn có tư duy tổ chức và quản trị xã hội bền vững.
Nhìn lại toàn bộ cuộc trò chuyện, có thể thấy những gì Giáo sư chia sẻ không chỉ là câu chuyện của quá khứ. Đó là những nguyên lý có thể vận dụng cho hiện tại: hiểu đúng về cốt lõi, quản trị bằng cơ chế minh bạch, tiếp biến có chọn lọc và nuôi dưỡng sáng tạo từ thực tiễn. Chính những bài học cổ nhân ấy là nền móng để một dân tộc vừa giữ được mình, vừa đủ linh hoạt để bước vào tương lai.

Cuộc trò chuyện khép lại bằng một nhận định sâu sắc: con người có thể nhận mình dốt để còn học hỏi, nhưng không ai dám nhận mình vô văn hóa. Văn hóa là một điều thiêng liêng, ai cũng có dù độ tuổi nào hay trình độ nào.
Để xem trọn vẹn nội dung và cảm nhận sâu sắc những bài học từ văn hóa dân tộc, mời bạn xem đầy đủ video tại đây.
Thảo luận về bài viết
Bạn phải đăng nhập để gửi bình luận.
Xem thêm